Toà Giám mục Nha Trang 22 Trần Phú - HT 42 - Tp. Nha Trang - Khánh Hoà - Đt. (84) 58.3523842 - Fax (84) 58.3522494
Rss Feed

Suy Niệm Thánh Vịnh 127 và Kinh Magnificat - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Kinh Magnificat không phải là một thánh vịnh theo nghĩa chặt. Không được viết bằng tiếp Hipri nhưng bằng tiếng Hy lạp. Vì thế nên có lẽ chúng ta không thể cùng đọc với dân Israel, như ta vẫn thường làm. Tuy nhiên, bài thánh thi Tân ước này lại sử dụng hình thức cổ điển của các thánh vịnh Tạ Ơn, rồi còn dùng những kiểu nói và não trạng Cựu Ước. Ta có trước mặt một chứng cứ đặc biệt chứng tỏ các thánh vịnh là lương thực thiêng liêng nuôi dưỡng các thế hệ kitô hữu tiên khởi, và cũng tràn đầy trong tâm tưởng của Đức Maria và Đức Giêsu.
Suy Niệm Thánh vịnh 127  
1 Ca khúc lên Đền.
            Hạnh phúc thay bạn nào kính sợ CHÚA,
            ăn ở theo đường lối của Người.
2          Công khó tay bạn làm, bạn được an hưởng,
            bạn quả là lắm phúc nhiều may.
3          Hiền thê bạn trong cửa trong nhà
            khác nào cây nho đầy hoa trái ;
            và bầy con tựa những cây ô-liu mơn mởn,
            xúm xít tại bàn ăn.
4          Đó chính là phúc lộc CHÚA dành cho kẻ kính sợ Người.
5          Xin CHÚA từ Xi-on xuống cho bạn muôn vàn ơn phúc.
            Ước chi trong suốt cả cuộc đời
            bạn được thấy Giê-ru-sa-lem phồn thịnh,
6          được sống lâu bên đàn con cháu.
            Nguyện chúc Ít-ra-en vui hưởng thái bình.
 
 
Cùng Đọc Với Israel
Thánh Vịnh này thuộc nhóm Thánh Vịnh lên đền, được hát khi các khách hành hương tiến lên đền thánh Giêrusalem. Từ năm 12 tuổi, hàng năm Đức Giêsu đều lên Giêrusalem để dự lễ và cũng đã hát thánh vịnh này. Đoạn kết là lời chúc lành mà các tư tế tuyên đọc trên những khách hành hương ngay khi họ đến: Xin Chúa từ Sion xuống cho bạn muôn vàn ơn phúc, ước chi trong suốt cả cuộc đời…
Qua thánh vịnh này chúng ta có một ca khúc đồng quê thật giản dị và tươi mát. Đó là cảnh ‘hạnh phúc trong nhà’ một gia đình được diễn tả với nội thất giản dị: những con người trong đó sống đạo đức (tôn thờ Chúa, tuân giữ luật Chúa…) vui tươi trong sinh hoạt lao động (là một hạnh phúc, ngay cả với người làm việc trí óc, tự tay mình làm) và trong tình yêu hôn nhân và gia đình …
Đối với Israel là điều kinh điển khi nghĩ rằng người đạo đức và công chính chỉ hạnh phúc và được thưởng công ngay đời này qua sự thành đạt của họ. Đôi khi chúng ta xét đoán những hạnh phúc vật chất là tầm thường và xem chúng như thứ cấp. Chính bởi vì chúng ta được giáo dục xưa nay trong một chủ nghĩa rất duy tâm. Tư tưởng thánh kinh thực tế hơn nhiều: thánh kinh không ngừng quả quyết rằng Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta để ta được hạnh phúc, và ngay từ đời này…Tại sao lại phật lòng khi thấy người khác hạnh phúc? Tại sao không tạ ơn Thiên Chúa và cầu mong sao mọi người đều được hạnh phúc như vậy?
Dĩ nhiên chúng ta đừng rơi vào thái cực đối nghịch, của những bạn hữu của ông Gióp, một quan niệm rõ ràng như hai với hai là bốn: đạo đức thì hạnh phúc, còn gian ác thì khốn khổ! Nhưng chúng ta biết rõ rằng cả những người công chính cũng có thể thất bại và đau khổ và những kẻ bất lương lại thành đạt. Đau khổ không phải là một hình phạt…là một sự kiện. Và sự thành đạt của con người chưa chắc là bằng chứng của nhân đức.
Nhưng từ trong thâm tâm, người công chính vẫn thấy mình là người hạnh phúc nhất, ít là trên bình diện thiêng liêng, ‘Hạnh phúc thay bạn nào tôn thờ Chúa’.
Cùng Đọc Với Đức Giêsu
‘Hạnh phúc thay bạn nào kính sợ Chúa, ăn ở theo đường lối của Người’. Đức Giêsu đã nói: ‘Phúc thay ai…Phúc thay ai…’ Đó là những mối phúc. Đức Giêsu cũng hứa ban hạnh phúc: ‘Phúc cho ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành’.
‘Hiền thê ngươi… và bầy con ngươi’. Một lý tưởng cho đôi bạn đời. ‘Sự gì Thiên Chúa đã liên kết con người không được phân ly’ (Mc 10, 2.16). Chúng ta cũng thấy Đức Giêsu yêu mến trẻ thơ, người đã chúc lành cho chúng.
Những so sánh mầu nhiệm: Đức Giêsu có một hiền thê là Giáo Hội (Kh 19,7-21,2); (Mt 9,15-25,1); (Ga 3,29); (2 Co 11,2) và con cái, ngài đã nuôi dưỡng xung quanh bàn tiệc Thánh Thể, chính do ‘tay ngài làm’, nhờ công trình tử nạn mà con cái được no nê và hạnh phúc.
Vườn nho cũng là hình ảnh về Giáo Hội, hình ảnh diễn tả mối liên kết tình yêu giữa Đức Giêsu và nhân loại: ‘Ta là cây nho, anh em là cành…để anh em sinh nhiều hoa trái’ (Ga 15). ‘Này con, hãy đi làm vườn nho cho cha’ (Mt 21,28).
‘Bạn được thấy Giêrusalem phồn thịnh’, Đức Giêsu đã khóc thương Giêrusalem, và cầu chúc cho Giêrusalem được hạnh phúc (Lc 19,41). Thánh Gioan loan báo một ‘thành thánh Giêrusalem mới’ từ trên trời mà xuống như người tân nương hạnh phúc (Kh 21,2.27).
Cùng Đọc Với Người Thời Nay
Kính sợ Chúa và ăn ở theo đường lối của Người’… Cha Teilhard de Chardin có viết một chương tuyệt vời về những nguyên tắc căn bản của hạnh phúc, mà cha tóm lại trong ba từ: hiện hữu, yêu thương, kính thờ.
Hiện hữu. Để được hạnh phúc, trước tiên phải hành động chống lại khuynh hướng buông xuôi, không muốn cố gắng một chút nào…Tinh thần được xây dựng cách miệt mài qua và vượt lên trên đời sống vật chất này. Đó là ý nghĩa của lao động, làm việc…
Yêu thương. Để được hạnh phúc, cần phải chống lại tính ích kỷ, đóng kín mình lại, hoặc thâu tóm người khác dưới sự thống trị của mình. Đó chính là hình ảnh ‘gia đình’.
Kính thờ. Để được hạnh phúc, hoàn toàn hạnh phúc, cần phải di chuyển từ cực hạn hẹp của cuộc sống đến cực lớn hơn, để đến được miền của những niềm vui trường cửu, khám phá ra Đấng Cao Cả tự hữu đang thu hút chúng ta…để tùy thuộc cuộc sống mình vào Sự Sống lớn lao hơn sự sống của chúng ta: đó là thái độ kính thờ. Chúng ta tháp nhập và tùy thuộc vào Toàn Thể (vũ trụ) rất trật tự, mà chúng ta chỉ là một phần bé nhỏ có ý thức. Một trật tự vượt trên chúng ta đón chờ chúng ta. Lý tưởng của con người trước hết là phát triển chính mình…rồi trao ban cho người khác ngang hàng với mình…và sau cùng quy phục và dâng hiến cả cuộc sống mình cho Đấng cao cả hơn mình: hiện hữu, yêu thương và kính thờ là những giai đoạn của hạnh phúc chúng ta.
Hôn lễ…tình yêu phu phụ…Những thực tại thần linh. Chúc lành của Thiên Chúa. Tình yêu con người là điều tốt, được tạo dựng bởi thiên Chúa, được Ngài ước muốn. Ta có thể cầu nguyện thánh vịnh này bằng cách nghĩ đến những người chúng ta yêu thương, bằng cách cầu nguyện cho họ được hạnh phúc, cho họ biết yêu nhau. Hai hình ảnh, cây nho và cây ô-liu gợi lên niềm vui: là những cây ăn quả đặc trưng của Đông Phương…tặng ban cho con người rượu và dầu. Hình ảnh ‘con cái xúm xít quanh bàn ăn’ có thể giúp ta cầu nguyện cho con cái chúng ta, để chúng biết yêu thương huynh đệ, để giảm bớt đi những chống đối giữa cha mẹ và con cái.
Công việc nghề nghiệp…thành phố …xã hội. Hạnh phúc của Giêrusalem là điều kiện cho hạnh phúc của các gia đình do thái. Mỗi người nam, nữ, mỗi gia đình, mỗi nhóm không thể xây dựng hạnh phúc cho mình chống lại hạnh phúc kẻ khác. Chiều kích xã hội của cuộc sống con người luôn được kinh thánh nhắc đến: tôi cầu nguyện cho đất nước của tôi, cho các tổ chức mà tôi đang dấn thân vào, cho thành phố nơi tôi sinh sống, cho những người đồng hương với tôi.
Hạnh phúc…Tiếc thay chúng ta thường hay có khuynh hướng chỉ nghĩ đến Thiên Chúa khi ‘có rắc rối, khi có điều không hay xảy ra, giống như Thiên Chúa là giải pháp ‘lấp chỗ trống’ cho những yếu đuối, thất bại của chúng ta. Ta đang trình bày một hình ảnh sai lạc về Thiên Chúa khi xem Người như ‘một động cơ phụ giúp’ cho những khả năng hạn hẹp của chúng ta. Cần phải biết dâng lời chúc tụng, lời cầu nguyện vui tươi, vui vì mọi sự đều tốt lành, và biết thưa tiếng ‘cám ơn’.
Noël Quesson, 50 Psaumes pour tous les jours, Tome I
Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê chuyển dịch
Suy Niệm Kinh Magnificat
Lc 1,46-55
46 Bấy giờ bà Ma-ri-a nói :
            "Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa,
47         thần trí tôi hớn hở vui mừng
            vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.
48         Phận nữ tỳ hèn mọn,
            Người đoái thương nhìn tới;
            từ nay, hết mọi đời
            sẽ khen tôi diễm phúc.
49         Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi
            biết bao điều cao cả,
            danh Người thật chí thánh chí tôn !
50         Đời nọ tới đời kia,
            Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người.
51         Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh,
            dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.
52         Chúa hạ bệ những ai quyền thế,
            Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.
53         Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư,
            người giàu có, lại đuổi về tay trắng.
54         Chúa độ trì Ít-ra-en, tôi tớ của Người,
55         như đã hứa cùng cha ông chúng ta,
            vì Người nhớ lại lòng thương xót
            dành cho tổ phụ Áp-ra-ham
            và cho con cháu đến muôn đời."
 
Cùng Đọc Với Cựu Ước
Kinh Magnificat không phải là một thánh vịnh theo nghĩa chặt. Không được viết bằng tiếp Hipri nhưng bằng tiếng Hy lạp. Vì thế nên có lẽ chúng ta không thể cùng đọc với dân Israel, như ta vẫn thường làm. Tuy nhiên, bài thánh thi Tân ước này lại sử dụng hình thức cổ điển của các thánh vịnh Tạ Ơn, rồi còn dùng những kiểu nói và não trạng Cựu Ước. Ta có trước mặt một chứng cứ đặc biệt chứng tỏ các thánh vịnh là lương thực thiêng liêng nuôi dưỡng các thế hệ kitô hữu tiên khởi, và cũng tràn đầy trong tâm tưởng của Đức Maria và Đức Giêsu.
Trước tiên, thánh thi của Đức Maria giống với bài ca của bà Anna, mẹ ông Samuel: ‘Tâm hồn con hoan hỷ vì Đức Chúa…Chẳng một ai khác ngoại trừ Ngài…Cung nỏ người hùng bị bẻ tan, kẻ yếu sức lại trở nên hùng dũng. Người no phải làm mướn kiếm ăn, còn kẻ đói được an nhàn thư thái…Kẻ mọn hèn, Chúa kéo ra khỏi nơi cát bụi, ai nghèo túng, Người cất nhắc từ đống phân tro, đặt ngồi chung với hàng quyền quý…Kẻ thù Đức Chúa sẽ bị đập tan’ (1Sm 2,1-11).
Nhiều liên tưởng đến các Thánh vịnh khác như:
-          Nhưng ân tình Chúa thiên thu vạn đại, dành cho kẻ nào hết dạ kính tôn (Tv 103,17)
-          Tôn danh Người thánh thiêng khả úy (Tv 111,9)
-          Họng ráo khô, Chúa cho uống phỉ tình, bụng đói lả Người cho ăn thỏa thích (Tv 107,9)
-          Tay mạnh mẽ đập tan quân thù (Tv 89,11)
-          Kẻ mọn hèn Chúa kéo ra khỏi nơi cát bụi, ai nghèo túng, Người cất nhắc từ đống phân tro (Tv 113,7)
-          Người đã nhớ lại ân tình và tín nghĩa dành cho nhà Israel (Tv 98,3)
Phần giữa của thánh thi Magnificat đi vào đúng ý hướng thiêng liêng của Israel, dân tộc bé nhỏ nghèo hèn mà Thiên Chúa đã đoái thương. Chúng ta lắng nghe lời cầu nguyện của những ‘người nghèo của Đức Chúa’ anawim. Sau hết Đức Maria được xem như đỉnh cao của toàn thể lịch sử dân được tuyển chọn. Trong một đoạn ngắn ngủi mẹ đã liên kết hai đầu của sự can thiệp lạ lùng của Thiên Chúa: ở điểm khởi đầu, với Ápraham và lời hứa của Thiên Chúa…ở điểm đến, với Maria, nơi Mẹ hoàn thành lời hứa.
Cùng Đọc Với Tin Mừng
Nếu lời kinh Magnificat nằm trong dòng chảy của Cựu ước, thì cũng là lời tiên báo của Tin mừng.
Từ ngữ ‘nữ tỳ hèn mọn’ làm ta nghĩ đến cảnh truyền tin, mẹ Maria đã thưa với sứ thần: Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa. Làm ta nghĩ đến những dụ ngôn mà Đức Giêsu khuyên nhủ ta hãy làm những đầy tớ tốt lành, phải làm việc bổn phận của mình. Nhất là ta nghĩ đến Đức Giêsu đã mặc lấy thân phận tôi tớ, quỳ gối rửa chân cho các tông đồ vào đêm Thứ Năm thánh.
Những thay đổi hoàn cảnh mà kinh Magnificat nói đến (hạ bệ người quyền thế, kẻ đói nghèo được đầy dư, kẻ khiêm nhường được nâng cao, người giàu có bị đuổi về tay trắng) chúng ta gặp thấy trong nhiều trang tin mừng, không cần phải liệt kê ra đây. ‘Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống…kẻ rốt hết sẽ nên trước hết…’
Niềm vui của Maria loan báo niềm vui của Đức Giêsu. Phải chăng là vô tình mà niềm vui của cả hai Đấng đều có cùng nguyên do như nhau? ‘Được Thánh Thần tác động, Đức Giêsu hớn hở vui mừng nói: ‘Lạy Cha là Chúa tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn’ (Lc 10,21). Niềm vui của Đức Maria, cũng như niềm vui của Đức Giêsu, chính là chiêm ngưỡng hành động của Thiên Chúa dành cho những kẻ bé mọn nghèo hèn.
Cùng Đọc Với Người Thời Nay
Mang lại công bình cho người bị loại trừ. Kinh Magnificat chia loài người ra làm hai: một bên là những người bình thường, khiêm nhượng, nghèo hèn, đói khổ…một bên là những kẻ kiêu căng, người giàu có, người quyền thế…Mẹ Maria thuộc hạng người thứ nhất. Xét về mặt nhân loại, Mẹ sống trong bóng tối, trong sự bình dị. Với sự nhạy cảm nội tâm, Mẹ tin rằng Thiên Chúa ưu tiên cúi xuống trên những kẻ bé nhỏ và Mẹ cũng chiêm ngưỡng trước sự thay đổi hoàn cảnh mà Kinh Thánh công bố. Đây là một viễn ảnh dài hơi, mang tính cánh chung: một cách nghịch lý, người ta chẳng bao giờ thấy Thiên Chúa hạ bệ những kẻ kiêu căng, người quyền thế, trong cuộc đời của Đức Maria…Chính Mẹ, ngược lại, đã phải trốn chạy Hêrôđê khi ông này tìm cách hại con trẻ. Và sau cùng những kẻ quyền thế đã treo con Mẹ trên thập giá. Nhưng cách chính xác, Đức Maria đã ca tụng chiến thắng của Thiên Chúa, khi mà sự bất công ngự trị khắp nơi đã bị khuất phục, khi sự đàn áp của kẻ giàu sang đã được bù đắp, khi sự kiêu căng của người quyền thế bị tiêu diệt, vào giờ của sự can thiệp tối hậu của Thiên Chúa. Chính sự phục sinh của Đức Giêsu lật đổ người quyền thế xuống khỏi ngai vàng và nâng cao những kẻ khiêm hạ.
Tuy nhiên, chúng ta cần phải làm tất cả, ngay từ nơi này và bây giờ, để làm việc theo ý hướng của Thiên Chúa: mang lại công bình và cơ hội cho người bị khinh dễ, nâng đỡ những người nghèo, cho kẻ đói ăn. Giới trẻ ngày nay và các phong trào đương thời đang đi theo chiều hướng này, cho dù nhiều lúc mang dáng dấp cảnh huống. Không phải là không có lý khi ta thấy cất hát lên trong các dịp lễ của các trường học bài ca Magnificat, mang ý nghĩa như một bài ca giải phóng hoặc cách mạng. Bạo lực đang chảy trong những phong trào này, không hoàn toàn mang tính tin mừng, nhưng chúng ta, chúng ta làm gì để ‘lật đổ người quyền thế khỏi ngai vàng và nâng cao những người phận nhỏ’?
Khiêm nhượng, đơn sơ. Trong cuộc đời, có những người vị vọng, quan trọng…và cũng có những những kẻ khiêm nhường, những người mà không ai thèm nói tới…Maria thuộc hạng người này, ẩn khuất giữa đám dân làng Nagiarét. Một mạc khải chính yếu của kinh Magnificat, đó là đối với Thiên Chúa, mỗi sinh vật (con người) đều quan trọng. Càng bé nhỏ chừng nào, thì càng được Thiên Chúa nhìn đến, quan tâm.
Vui mừng, hạnh phúc. Đức Maria bắt đầu nói: Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa…hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. Hạnh phúc của mẹ từ đâu đến? Từ cái nhìn của Thiên Chúa: ‘Người đoái thương nhìn đến’. Hạnh phúc ấy vỡ òa ra thành lời ca tụng.
Có trái tim rộng mở đến vô biên. Không phải vì mẹ biết mình bé nhỏ và không ai biết đến mà mẹ có một tâm hồn nhỏ bé đâu. Thật khác xa! Mẹ nhìn thật xa và thật rộng. Người thiếu nữ vô danh này đã nghĩ đến toàn thể nhân loại. Chân trời của mẹ là ‘tương lai’: muôn thế hệ khen rằng tôi diễm phúc. Mẹ nghĩ đến tất cả những người đói nghèo, những người hèn mọn của mọi thời và nhận thấy rằng Thiên Chúa ưu tiên yêu thương họ.

Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê
Từ khóa:

thánh vịnh