Toà Giám mục Nha Trang 22 Trần Phú - HT 42 - Tp. Nha Trang - Khánh Hoà - Đt. (84) 58.3523842 - Fax (84) 58.3522494
Rss Feed

Suy Niệm Thánh Vịnh 24 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 24 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Đức Giêsu là đấng cứu độ…đấng mang lại ơn tha thứ…Ngài là con đường dẫn đến Chúa Cha: trong thánh vịnh này, đề cập đến bốn lần những nẻo đường của Thiên Chúa, hai lần lối đi của Ngài, và hai lần cầu xin Ngài dẫn con đi (là động từ có cùng một căn ngữ với từ ngữ đường trong tiếng do thái). Lạy Chúa Giêsu, Chúa là đường, xin dẫn đưa con đi. Chính những ‘anawim’, những kẻ nghèo cầu nguyện trong thánh vịnh này. Và ta biết rõ vị trí của họ trong lòng của Đức Giêsu.

Suy Niệm Thánh Vịnh 92 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 92 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thiên Chúa ngự trị! Vua tối cao vũ hoàn, oai phong, dũng lực. Đấng tạo hóa oai phong như mặc cẩm bào: tạo thành của Ngài. Vững bền, vĩnh cửu: địa cầu không lay chuyển. Chiến thắng: sóng nước, hình ảnh của quyền lực sự dữ đã gầm lên, nhưng Chúa kiên vững. Ngài thánh thiện, vĩnh cửu: Ngài điều hướng lịch sử Đền Thánh của Ngài cho đến thời tận cùng. Đây là một Thánh vịnh về vương quyền của Thiên Chúa: Ngài là vua vũ hoàn: địa cầu, biển cả…Ngài là vua lịch sử, qua các chiến công Ngài cho dân ngài dành được (cuộc vượt qua biển đỏ được nhắc đến, khi mà Thiên Chúa điều khiển sóng nước). Ngài là vị vua thiên sai, nhờ vào chiến thắng chung cục trên mọi quyền lực sự dữ qua mọi thời…

Suy Niệm Thánh Vịnh 15 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 15 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Tiếng kêu ‘xin giữ gìn con’, lạy Chúa Trời của con, là nơi ẩn náu, là hạnh phúc của con. Một chọn lựa triệt để: chống lại các ngẫu thần …một phong trào ngoại giáo đang lan tràn…tuyệt đối chối từ các ngẫu thần. Hạnh phúc được sống thân tình với Thiên Chúa: Không, tôi không hối tiếc, tôi đã chọn phần tốt nhất. Thiên Chúa là vị cố vấn của tôi… Ngài luôn đồng hành và bảo vệ tôi…Thiên Chúa là niềm vui, là sự sống và là sự sống lại….Thiên Chúa là con đường, là ý nghĩa cuộc đời tôi. Thiên Chúa là hạnh phúc vĩnh cửu của tôi.

Suy Niệm Thánh Vịnh 145 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 145 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Đây là một Thánh Thi ca ngợi vương quyền Thiên Chúa. Từ Thánh vịnh 145 cho đến Thánh vịnh cuối cùng 150, ta có một loạt thánh vịnh được gọi là Hallel cuối cùng, bởi vì mỗi một trong sáu Thánh vịnh này đều mở đầu và kết thúc bằng Alleluia. Cũng thế, sách Thánh vịnh kết thúc bằng lời chúc tụng. Hãy lưu ý từ Alleluia, trong tiếng Do Thái có nghĩa là Hãy chúc tụng Thiên Chúa. Tác giả Thánh vịnh ca ngợi tình yêu Chúa với một giọng điệu hân hoan bằng cách lập lại chín lần cùng một cấu trúc văn phạm được gọi là ‘động tính từ ca tụng’.

Suy Niệm Thánh Vịnh 17 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 17 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Phần đầu dành nói về việc xuất Aicập, biểu trưng cho mọi cuộc ‘chiến đấu’ của Thiên Chúa chống lại những sức mạnh tử thần. Chúa lắng nghe lời kêu cứu trong cơn túng quẫn. Thiên Chúa can thiệp dưới hình thức thần hiện. Những Gợi Nhớ về Núi Sinai. Đất rung chuyển, núi lửa, đám mây đen, hình hài kỳ dị, bão tố, bóng tối, lụt, sấm sét, mưa đá, sóng nước. Tất cả những hình ảnh thi vị để nói lên uy quyền của Thiên Chúa, Đấng đưa cánh tay uy quyền để cứu. ‘Ngài cứu con vì Ngài yêu mến con’. Giao Ước. Phần hai nói về ân huệ Lề Luật, Giao ước: đường lối Ngài, mệnh lệnh Ngài, lề luật của Ngài, con cố gắng tuân giữ.

Suy Niệm Thánh Vịnh 23. Lễ Các Thánh - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 23. Lễ Các Thánh - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh vịnh về Vương Quyền mô tả đoàn rước tiến vào đền thánh…Chính Đức Chúa Thiên Chúa, Đấng tạo thành vũ trụ, là Đức Vua tiến vào ngự trị trong cung điện và thành phố của Ngài. Khi tung hô Chúa, Israel muốn Ngài cai trị, và xác quyết sự tuân phục của mình. Nhưng Ngài cai trị thế nào? Ngay tại cửa đền thờ, ta nghe như một loại bài giáo lý: chính những cung cách tâm hồn của con người làm cho Thiên Chúa ngự trị. Có lòng thanh, tay sạch không nhúng vào âm mưu đen tối, lòng thanh thoát khỏi mọi ngẫu tượng, khỏi những gì không phải là Thiên Chúa, trung tín trong lời nói với kẻ cận thân, khao khát công bình và tìm kiếm Thiên Chúa. Đó là con người đang làm cho nước Thiên Chúa hiển trị nơi lòng mình và trong xã hội.

Suy Niệm Thánh Vịnh 125 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 125 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Đây là một Thánh vịnh lên đền. Là một phần của tổng hợp các bài ca mà người Do Thái hát khi hành hương về Giêrusalem. Những biểu thức (ra đi…đi…trở về…về..) gợi lên một cuộc rước lên Đền Thờ, có lẽ với những bó lúa vào dịp Lễ hội người ta dâng lên Thiên Chúa những hoa màu vừa mới thu hoạch. Lưu ý đến nhịp điệu được diễn tả qua cách dùng điệp ngữ, giống như bậc cấp người ta bước lên từng bước một: dẫn về… dẫn về, ta tưởng mình…. Ta thấy mình… ôi vĩ đại…vĩ đại thay. Mỗi khúc được xây trên một nhịp được gọi là bài ca than: câu thứ nhứt có ba dấu nhấn, và câu hai có hai dấu nhấn, giống như hơi thở của một người đang xúc động mạnh, sắp ngất...

Suy Niệm Thánh Vịnh 32 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 32 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Mời gọi ca tụng: hãy reo hò, tạ ơn Chúa, gieo vạn tiếng đàn, hãy dâng Chúa khúc tân ca, rập tiếng hoan hô… +Thiên Chúa, Đấng Tạo Dựng: -Trái đất. Tình thương Chúa đã dựng nên mặt đất, bằng lời sáng tạo, bằng hơi thở thần linh. –Biển cả…tất cả đều tuân phục Ngài +Thiên Chúa Đấng Quan Phòng, chủ tể lịch sử, một vị Thiên Chúa can thiệp, phá tan ý định xấu… Ngài đang thực hiện chương trình của riêng ngài, nhờ dân tuyển chọn, Ngài không lãng quên bất cứ một cư dân nào trên địa cầu, tất cả đều do Ngài tạo dựng, Ngài biết tất cả…

Suy Niệm Thánh Vịnh 89 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 89 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Trong câu mở đầu thánh vịnh được gán cho Môsê, người của Thiên Chúa: đây là thánh vịnh duy nhất được đặt dưới sự bảo hộ của Môsê, vì có những liên hệ văn chương với Sách Sáng thế (St 2,17-3,12). ‘Ađam đã được lấy ra từ đất…sẽ trở về với bụi đất’; và Sách Xuất hành (Xh 32,12), Đệ Nhị Luật (32,36). ‘Xin Ngài nguôi cơn thịnh nộ và xin Ngài thương đừng hại dân Ngài’ lời Môsê chuyển cầu cho dân. Đây là một thánh vịnh nài xin tha tội, lời cầu nguyện tập thể: tác giả thánh vịnh luôn sử dụng đại từ ‘chúng con’, ông không cầu nguyện một mình, nhất là không chỉ cầu xin tha tội cho mình, nhưng tội lỗi cho dân.

Suy Niệm Thánh Vịnh 127 và Kinh Magnificat  - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 127 và Kinh Magnificat - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Kinh Magnificat không phải là một thánh vịnh theo nghĩa chặt. Không được viết bằng tiếp Hipri nhưng bằng tiếng Hy lạp. Vì thế nên có lẽ chúng ta không thể cùng đọc với dân Israel, như ta vẫn thường làm. Tuy nhiên, bài thánh thi Tân ước này lại sử dụng hình thức cổ điển của các thánh vịnh Tạ Ơn, rồi còn dùng những kiểu nói và não trạng Cựu Ước. Ta có trước mặt một chứng cứ đặc biệt chứng tỏ các thánh vịnh là lương thực thiêng liêng nuôi dưỡng các thế hệ kitô hữu tiên khởi, và cũng tràn đầy trong tâm tưởng của Đức Maria và Đức Giêsu.

Suy Niệm Thánh Vịnh 18 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 18 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Cũng như thế giới chỉ được chiếu sáng và có sự sống nhờ mặt trời, thì con người chỉ phát triển và đạt đến mức tràn đầy sự sống nhờ ‘lề luật’, là sự sống của Thiên Chúa, tư tưởng của Người, ý muốn của Người giữa loài người. Hai phần của Thánh vịnh được liên kết với nhau thật chặt chẽ: Đấng làm ra các luật ‘vật lý’ cho vũ trụ, cũng chính là Đấng thiết định những luật ‘luân lý’ cho con người. Qua thánh vịnh này, chúng ta tiếp cận tâm hồn của Israel, gắn bó với Lề Luật thánh (Torah) bằng một tình yêu chân thành và cháy nóng.

Suy Niệm Thánh Vịnh 53 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 53 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Lời mở đầu Thánh vịnh dẫn ta vào lời cầu nguyện của chính Đavít. Đavít bị kẻ thù của mình là Saolê truy đuổi vì ông vua đầu tiên này của Israel e sợ chàng thanh niên Đavít chiếm đoạt ngai vàng, xét vì anh ta được nhiều cảm tình của dân chúng. Những ‘khách lạ’, dân chúng nơi mà Đavít trú ngụ, sẵn sàng ‘bán đứng’ anh (x. 1 Sm 23,19.28). Những người đã cầu nguyện và đọc thánh vịnh này trong dòng lịch sử, cách đặc biệt vào những thời kỳ bị bách hại của nhà Maccabê, là những người nghèo ‘anawim’ bị những kẻ quyền thế, kiêu căng, không niềm tin, không lề luật, không kể gì đến Thiên Chúa, bách hại.

Suy Niệm Thánh Vịnh 114 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh vịnh tạ ơn này là một phần của Hallel Ai cập. Người do thái hát Thánh vịnh này vào cuối bữa ăn vượt qua, sau khi đã nhắc lại việc Thiên Chúa giải thoát cha ông họ khỏi ách nô lệ Ai cập. Đó chính là hậu cảnh. Những tù binh được giải thoát, những người trước đây bị lưu đày, những ai đã từng trải qua một nguy hiểm lớn lao …mới có thể hiểu được. Israel đã bị trói buộc bởi thừng chão của Pharaon, không chút tự do, bị nghẹt thở giữa một nền văn hóa ngoại giáo thờ ngẫu thần, dân Chúa đã ra như chết. Israel thật ‘bé mọn’ và ‘yếu đuối’, trước quyền lực mạnh mẽ của quốc gia đàn áp. Israel đã ‘kêu cứu’ và Thiên Chúa đã nghe (x.Xh 2,23.24). Thiên Chúa đã giải cứu Israel, và đã đưa họ vào vùng đất nghỉ ngơi, ‘cõi đất dành cho kẻ sống’…đất Canaan, đất của Thiên Chúa, là Nhà, là Thành trì, là đất nơi con người sống ‘trước mặt Chúa’.

Suy Niệm Thánh Vịnh 145 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 145 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Đây là một Thánh Thi ca ngợi vương quyền Thiên Chúa. Từ Thánh vịnh 145 cho đến Thánh vịnh cuối cùng 150, ta có một loạt thánh vịnh được gọi là Hallel cuối cùng, bởi vì mỗi một trong sáu Thánh vịnh này đều mở đầu và kết thúc bằng Alleluia. Cũng thế, sách Thánh vịnh kết thúc bằng lời chúc tụng. Hãy lưu ý từ Alleluia, trong tiếng Do Thái có nghĩa là Hãy chúc tụng Thiên Chúa. Tác giả Thánh vịnh ca ngợi tình yêu Chúa với một giọng điệu hân hoan bằng cách lập lại chín lần cùng một cấu trúc văn phạm được gọi là ‘động tính từ ca tụng’.

Suy Niệm Thánh Vịnh 14 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 14 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Đây là Thánh Vịnh Hành Hương. Dân Do Thái ở Palestine lên Giêrusalem mỗi năm một lần. Những cuộc hành hương này vẫn đều đặn trong cuộc đời Đức Giêsu: đây là biến cố trong năm, một cơ hội để những người do thái đạo đức thêm sức mạnh cho niềm tin. Khi đến Giêrusalem, người ta sẽ được viếng đền thờ. Thánh vịnh 14 này là thành phần của bài giáo lý ngay tại cửa đền: những khách hành hương từ xa về, có thể đã tiêm nhiễm bởi những tục quán của dân ngoại, chính vì thế mà các Lêvi thuyết giảng bài giáo lý sơ đẳng trước khi cho phép họ vào nơi thánh. Trong Thánh vịnh này, một khách hành hương đã đặt câu hỏi: “Ai được vào nhà Chúa?” Sau đó là phần trả lời của các Lêvi. Một loại thập điều.

Suy Niệm Thánh Vịnh 33 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh vịnh theo mẫu tự, mỗi câu mở đầu bằng một mẫu tự Do Thái. Thánh vịnh nói về ai? Ai là người được mời để chúc tụng Chúa? Những người nghèo, “Xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên”.Vâng, kẻ bần cùng, người khiêm cung, những tấm lòng tan vỡ được tuyên bố là những người hạnh phúc, trong khi kẻ giàu sang phải bần cùng đói khổ.

Suy Niệm Thánh Vịnh 77 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Công trình dài nhắc nhớ lịch sử này không mang lại niềm thất vọng, như vẻ bề ngoài của nó. Bởi lẽ với những tội lỗi không ngừng tái phạm, Thiên Chúa luôn đáp trả bằng sự tha thứ và những ân phúc mới. Dù bao bất trung, bất tín, Thiên Chúa vẫn luôn trung thành với Giao ước của Ngài. Thánh vịnh kết thúc với một viễn ảnh đầy hy vọng: người ta mong chờ một Đavít, vua mục tử hoàn hảo, khôn ngoan, chăn dắt dân. Và Đức Giêsu đã tự ví mình như vị ‘mục tử’ ấy, ngài đến để hiến mạng sống cứu dân Ngài (Ga 10).

Suy Niệm Thánh Vịnh 144 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Đây là một Thánh Vịnh theo mẫu tự ABC, mỗi câu bắt đầu bằng một chữ cái, diễn tả ước muốn ca tụng Giao Ước một cách toàn vẹn… Người Do Thái đọc Thánh vịnh này mỗi ngày vào giờ kinh sáng: ngày lại ngày, con xin chúc tụng Chúa… Đức Giêsu chắc cũng đã đọc Thánh vịnh này hàng nghìn lần. Từ ngữ diễn tả tâm tình ca tụng thật súc tích: tán dương, chúc tụng, ca ngợi, ca tụng, tuyên bố, kể lại rằng, xưng tụng… Tác giả Thánh vịnh không thể không chúc tụng vinh quang đức vua của ông, chính là Thiên Chúa. Ông kể ra vinh quang của Ngài, vinh hiển, kỳ công, uy quyền…

Suy Niệm Thánh Vịnh 22 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Suy Niệm Thánh Vịnh 22 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Thánh vịnh nói lên kinh nghiệm sống thân tình với Thiên Chúa, sử dụng hai hình ảnh rất được ưa chuộng: đồng cỏ…bữa tiệc…(Người chăn chiên….và Người chủ nhà…) Ở những nơi mà đời sống còn rất bình dị tự nhiên, loại ngôn ngữ này mang tính thi vị. Chủ đề “mục tử” được Kinh Thánh đề cập nhiều. Dân Do thái sống trong một nền văn minh nông nghiệp và du mục. Đối với người dân, đàn chiên là tài sản chính, cả cuộc sống nhằm lo lắng cho đàn chiên: tìm đồng cỏ xanh tươi, dẫn chiên đến dòng nước trong, cho chiên nằm nghỉ nơi bóng mát, biết dẫn chiên đi trong những lối đường an toàn tránh xa những nẻo đường nguy hiểm, với gậy trong tay bảo vệ chúng khi có thú dữ tấn công.

Suy Niệm Thánh Vịnh 84 - Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

Một động từ được lập lại 5 lần: dẫn về! Thánh vịnh này hoàn toàn được ghi dấu bằng chủ đề ‘đưa về, dẫn về’. Rõ ràng tình cảnh làm phát sinh lời cầu nguyện này chính là việc những người lưu đày được trở về từ Babylon. Người ta dựa trên một biến cố lịch sử, được xem như một hành động tha thứ của Thiên Chúa, để cầu xin Ngài một ân huệ mới. Sau niềm hân hoan của việc đoàn người tù nhân đầu tiên được giải thoát trở về, người ta lại nhanh chóng rơi vào nỗi thất vọng của cái ‘thường ngày’: việc tái thiết Đền Thờ bị trì hoãn và các địch thù không ngừng quấy phá những người mới hồi hương (Es 4,4).

Các tin khác

1, 2, 3 ... 15, 16, 17  Trang sau